Thím tôi – Truyện ký của Hà Nguyên Huyến

Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình mà bất cứ người phụ nữ nào bước vào làm dâu trong nhà tôi, tôi đều gọi họ bằng thím. Chẳng bao giờ tôi bận tâm bởi tôi coi đó là một lẽ tự nhiên, tôi còn quá nhỏ. Sau này lớn lên, tôi biết, tôi gọi họ như vậy bởi nhà tôi là “chi trưởng” (chi lớn nhất). Mẹ tôi là con dâu cả của một gia đình, một dòng họ lớn đã tồn tại lâu đời ở đây, làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội.

Mẹ tôi kể: Mẹ về làm dâu nhà tôi năm mười sáu tuổi. Hai năm sau, chưa kịp có con thì nhà tôi gặp phải đại hạn. Trong hai ngày, hai người mà theo vai vế họ chỉ gọi mẹ tôi là chị. Hai chú ấy chết đột ngột khi chưa đầy bảy tuổi. Rồi … Một cô nữa ra đi, tất cả đều yểu mệnh! Mẹ tôi bảo: Lúc lâm bệnh trên da thịt họ vằn vèo những vết bầm tím. Một cụ lang thuốc giỏi trong làng được mời đến thăm bệnh, bảo: Đây là một chứng đậu rắn, không thể chữa được. Chẳng biết từ ai mà dân làng đồn thổi rằng: các cô, chú ấy bị “thần trùng” đánh nên trên người vằn vện những vết roi. Nếu không cầu cúng, “trùng” sẽ bắt thêm người. Thần trùng bắt người biết đến lúc nào mới đủ … Trong làng đã có những gia đình chỉ vài năm mà mất đi hơn chục mạng người, già có trẻ có. Cả nhà sợ lắm!

Thế là năm ấy mẹ tôi phải đứng ra lập một cái “đàn tràng” để cúng. Mẹ nói: Cháu còn ít tuổi, lại mới về làm dâu, làm sao cáng đáng được việc này. Mấy bà thím của bố mẹ tôi bảo: Không ai bắt chị phải làm gì cả, chúng tôi sẽ lo liệu tất. Chị là dâu trưởng, lẽ thường phải thế cho “có đầu, có mỏ” là được. Thế là các bà vào tận làng Yên Mỹ (Thanh Mỹ) gần chân núi Ba Vì đón một ông thầy phù thủy có tiếng là cao tay về … “lên đàn giải hạn”. Chuyện ấy cho đến tận bây giờ, mấy chục năm có người kể lại: Voi giấy, ngựa giấy to như thật. Người nộm cắm hai bên vệ đường dài từ nhà ra đến cửa quán, ngoài cánh đồng … Sau khi cúng lễ, tiền bạc vô cùng tốn kém nhưng các gia đình nhỏ trong gia đình lớn mà nhà tôi là trưởng đều tự nguyện đóng góp. Mẹ tôi đứng ra thu tiền và thanh toán mọi khoản sòng phẳng, mạch lạc, không có điều tiếng gì. Các bà thím của bố mẹ tôi đều bảo: chị Trưởng lo liệu rất tốt! Sau này tôi mới biết đó là phẩm chất của một người đàn bà trên danh nghĩa là dâu trưởng của một dòng họ và càng thấm thía khi dân gian bạc khẩu bảo rằng: “Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng”.

Thủa thiếu thời, tôi nhận thấy những người đàn bà trong làng hầu như không bao giờ ngủ trưa. Trưa nào cũng vậy, họ thường tụ tập ở một nhà nào đó. Trong gia đình tôi, tất nhiên là nhà tôi, vai trên bố mẹ tôi (là các thím của bố mẹ) chúng tôi phải gọi họ bằng bà trẻ. Ngang vai với mẹ tôi, tôi gọi họ là thím. Trong số đó có hai bà trẻ. Tôi không biết tên thật của họ là gì, cả nhà, cả làng gọi bằng chức danh hay nghề nghiệp của chồng họ để tỏ ra sự tôn kính. Một bà là bà Trưởng Bạ (chức danh cho người cai quản sổ sách ruộng đất trong làng). Một bà là bà Phó Bạc (thợ bạc). Cả hai bà đều đã già nhưng còn khỏe mạnh và minh mẫn. Trong “cải cách ruộng đất” (1954), nhà tôi bị quy “thành phần địa chủ”, mẹ tôi sợ lắm. Nhà cửa ruộng đất mất đã đành nhưng còn bản thân mình khó tránh khỏi họa đấu tố … Oan uổng và nhục nhã lắm!

Mẹ tôi sẩy dạ, đẻ non anh trai tôi mới tròn bảy tháng tuổi. Ngày ấy quê tôi không có nhà hộ sinh, sản phụ thường sinh nở ở một góc nào đó trong nhà. Gia đình địa chủ sẽ không ai đến vì sợ liên lụy, cầm chắc cái chết! Trong lúc nguy kịch, mẹ tôi bảo chị gái tôi lúc bấy giờ mới bảy tuổi đầu chạy đi gọi bà Phó Bạc nhưng trong lòng thì không còn hy vọng gì. Đang lúng túng thì mẹ tôi nghe có tiếng người nói to như cãi nhau ngoài đầu ngõ: Người chửa cửa mả, huống hồ là đẻ đái. Các ông có cho tôi đi không thì bảo? … Thế là bà Bạ và bà Phó đã vượt vòng vây của du kích để vào cứu mẹ tôi. Mãi mấy hôm sau bố tôi mới về được. Chức danh của bố tôi lúc bấy giờ là Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn Tây (sau Hòa bình lập lại), vậy mà trình bày mỏi cả mồm với du kích mới về được nhà mình thăm vợ con. May mắn, nhà tôi được xuống thành phần trung nông lớp trên. Mãi cho đến sau này thỉnh thoảng hai bà lại đến nhà tôi vào buổi trưa. Chỉ có buổi trưa mẹ tôi mới có thời gian để tiếp chuyện mọi người. Hai bà thường nói với mẹ tôi những việc lớn trong gia đình như cưới treo, giỗ chạp, tang ma … Bao giờ hai bà cũng bắt đầu bằng câu: Bác Trưởng ạ, chỉ có bác mới nói với cả nhà được!

Cũng như vậy, các thím em mẹ tôi cũng hay đến nhà trò chuyện. Tôi hay ngồi nghe lỏm. Sau này tôi mới biết, toàn là chuyện “mẹ chồng, nàng dâu”. Mẹ tôi chăm chú lắng nghe, rồi đưa ra những lời khuyên nhủ. Chẳng biết lời nói của mẹ tôi có tác dụng gì không nhưng gia đình nọ cũng bớt đi những lời chì chiết, cãi cọ. Song, đến nay tôi nhận ra rằng, kiên nhẫn lắng nghe người khác cũng là một phẩm chất!

“Miếng trầu là đầu câu chuyện” bây giờ vẫn được người ta sử dụng, vận dụng vào những hoàn cảnh cần thiết nhưng có lẽ nó không còn đúng ý nghĩa như thời của mẹ tôi và các thím. Các thím đến nhà ai cũng biết ăn trầu, cho đến bây giờ trải bao biến động thăng trầm chúng tôi vẫn giữ được cái tráp trầu của mẹ. Cái tráp sơn “then” (đen) có nắp đạy, mở nắp ra có hai ngăn. Ngăn trên nông hơn ngăn dưới và có nhiều ô để bày trầu, cau, vỏ chay, thuốc lào, ống đựng vôi … Chỉ có thế thôi, “ăn trầu và trò chuyện” mà mấy chục năm trời hầu như trưa nào nhà tôi cũng có khách. Sự việc ấy kéo dài cho đến khi mẹ tôi mất năm người tròn sáu mươi tư tuổi. Chẳng biết có phải bây giờ không còn ai ăn trầu cho nên các thím cũng ít đến nàh tôi hay thời thế đã thay đổi. Ở làng nhưng “kín cổng cao tường” đang là một cách sống ở nông thôn … Bao nhiêu năm trôi qua nhưng mỗi lần nhìn lại chiếu phản kê ở gian giữa nhà khách, lòng tôi lại bồi hồi nhớ mẹ, nhớ các bà trẻ, các thím. Ai còn ai đã đi theo mẹ tôi. Toi không muốn chuyển chiếu phản này đi đâu. Bố tôi bảo: đẻ ra đã thấy nó được kê ở đấy rồi. Không biết với các con tôi thì sao, song với tôi nó đã gắn liền với chúng tôi bao chuyện vui buồn của một gia đình, một dòng họ. 

Ấy vậy mà một lần nó đã được nhấc ra, đó là vào năm 1972. B52 của đế quốc Mỹ ồ ạt đánh phá Hà Nội. Nhà tôi phải đào một cái hầm trú ẩn ngay trong lòng nhà mới mong có thể chạy kịp xuống ẩn nấp. Sau khi đắn đo, chiếc hầm được quyết định đào ngay dưới gậm phản. Chiếc phản được nhấc ra, đặt dựa nghiêng vào bậu cửa gian bên cạnh. Tôi không tin vào mắt mình, chạy lại gần để nhìn cho kỹ. Trời ơi, trừ một phía chiếu phản tiếp giáp với bậu cửa gian giữa, ba phía còn lại đều trắng toát. Những vệt vôi không biết từ đời nào, vệ nọ trồng lên vệt kia, ba cạnh phản … Nếu người nào không biết cứ tưởng ai đã cố tình quét vào đó một lớp vôi. Riêng tôi thì hiểu, mỗi lần ăn trầu, các thím tôi, người nào cũng thế, ai cũng làm đúng trình tự của câu ngạn ngữ: “Ăn trầu phải mở trầu ra/ Phòng có thuốc độc hay là mặn vôi”! Những ngón tay lấy đi phần vôi thừa của miếng trầu được quệt xuống mặt trái của chiếu phản họ đang ngồi vô tình đã làm nên như vậy! Nếu như mỗi vệt vôi là một câu chuyện, bao nhiêu chuyện của các thế hệ tính đến mẹ tôi đã được lưu giữ ở đây. Tôi coi đó như một ký ức không lời của một gia đình, một dòng họ. Hình ảnh mẹ tôi, các bà trẻ, các thím ngày mỗi ngày càng sâu đậm tâm thức tôi. 

(To be continued)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s