Last days of autumn

NGÀY CUỐI THU

Bút ký của Hà Nguyên Huyến

Ngày ấy cách nay đã hơn chục năm, trụ sở của Tuần báo Văn nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam (số 17, phố Trần Quốc Toản, Hà Nội) chưa được xây dựng lại. Vẫn là một tòa nhà mang dáng dấp của một căn biệt thự có từ thời thuộc Pháp còn sót lại. Để phù hợp với sự phát triển của tờ báo, căn biệt thự này được sửa chữa cơi nới nhiều lần. Khi tôi được về Ban Văn làm việc (khoảng những năm hai nghìn củaTK XX) thì đó là một tòa nhà ba tầng.Tầng hai, tầng ba sàn được lát bằng gỗ lim. Tuy lâu ngày không được đánh si lại nhưng vẫn còn bóng và đẹp lắm. Ban văn, Ban văn học nước ngoài, Ban thơ và Ban nghệ thuật ở tầng hai phía đằng sau. Qua một cái cầu thang hẹp và dốc đứng, đối diện là Phòng Tổng biên tập và Ban thư ký ở phía đằng trước (tòa nhà có kiến trúc ống). Nói là phòng dành cho các Ban chứ trên thực tế mỗi Ban chỉ có không đầy mười mét vuông (trừ phòng Tổng biên tập và Ban thư ký). Đầu tuần chuẩn bị bài vờ cho một số mới, phòng nào cũng “ăm ắp” người. Người lạ đến đây đều có cảm giác đó là “một tổ ong” khổng lồ!… Ấy vậy mà vui, đã đành đây là nơi làm việc của rất nhiều người “tăm tiếng” trên văn đàn cả nước, lại còn “tao nhân, mặc khách” nữa chứ… Có bảo vệ đấy nhưng có lẽ không ai bị hỏi đến để gặp ai và làm gì. Phải chăng đó cũng là một biệt lệ!

Vào những chiều cuối tuần khi công việc cho số báo sắp ra đã lên khuôn, tòa soạn mới vắng đi đôi chút, đó là những khoảng lặng hiếm hoi. Những lúc ấy tôi hay ngẫm nghĩ về bản thân mình.

*

Trong những năm tháng học đại học tôi hay về nhà bác tôi, ông là Hứa Như Ý (nguyên Vụ phó Vụ Tại chức Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, lúc bấy giờ văn phòng Bộ ở số 9, phố Hai bà Trưng, Hà Nội). Bác tôi quê gốc ở Triệu Sơn, Thanh Hóa, bác tham gia kháng chiến trước “tổng khởi nghĩa” (1945), sau đó được đào tạo sỹ quan tại trường Lục quân Sơn Tây (bây giờ) và có mặt trong “đoàn quân tây tiến”. Sau “hòa bình lập lại” (1954) bác học Khoa Sử, Trường Đại học sư phạm I Hà Nội rồi trở thành giáo viên trung học… Tôi không ngờ khoảng những năm tám mươi của TK XX bác lại là một người nồng nhiệt cho “đổi mới”. Chính bác đã đón Phùng Gia Lộc về nhà mình ở Z8, phòng 5 khu tập thể Bộ đại học (ở cổng phụ trường Đại học Bách khoa Hà Nội phia đường Đại Cồ Việt). Bác cũng là người về Tỉnh ủy Thanh Hóa bênh vực cho nhà văn này. Bác Hứa Như Ý một đôi lần dẫn tôi đến báoVăn nghệ, ở đấy bác thân với Trần Huy Quang, Bế Kiến Quốc… Tôi không bao giờ dám bước chân vào đây, lý do chỉ là tôi sợ, một nỗi sợ vô hình bởi nơi ấy là nơi làm việc của các nhà văn, nhà thơ mà tôi đã học, đã đọc và hâm mộ họ khi còn là một học sinh trung học phổ thông….

Thế mà hôm nay tôi được về đây làm việc, cuộc đời cho tôi một may mắn nhưng có lẽ một phần cũng là do tôi dám hết mình cho một niềm đam mê… Cũng vào một buổi chiều vắng vẻ, tôi đang ngồi một mình trong Ban văn. Bỗng ngửi thấy mùi thuốc lá, một loại thuốc lá lâu lắm rồi không thấy ai hút cả, Tôi chạy ra ngoài, chẳng có ai. Hành lang phía đối diện, trong ánh nắng xiên khoai qua đan chiếu sáng tòa nhà mơ hồ có một làn khói thuốc xanh mờ phảng phất. Tôi ngồi đợi, một lúc lâu sau có một người xuất hiện. Đó là nhà văn Đỗ Chu, ông có việc gì đó với Tổng biên tập. Tôi đi ra, hỏi: Hình như bác vừa hút thuốc Captain Black. Đỗ Chu đưa ra cái tẩu và hỏi lại: Chú biết loại thuốc này à?… Rồi Đỗ Chu vào phòng tôi. Hôm đó ông kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện về thuốc và tẩu thuốc.

Nhà văn Đỗ Chu bảo: Tẩu thuốc có nhiều loại và có nhiều kiểu dáng. Tùy theo ý thích và tuổi tác mà người ta có thể chọn cho mình một cái thích hợp. Song dù là gì đi nữa thì nõ tẩu (chỗ để nhồi thuốc) đều được khoét duy nhất bằng một loại gỗ, đó là gỗ mận. Đây là một loài cây mọc ở bờ biển Bồ Đào Nha, trên thế giới duy nhất vùng đất này có loại gỗ làm nên những chiếc tẩu, đóng góp vào “văn hóa thuốc lá” (khi người ta chưa phát hiện thuốc lá là nguyên nhân gây ra rất nhiều bệnh, cả cho người chủ động hút và thụ động hít phải)… Phần thân tẩu được chế tạo bằng rất nhiều chất liệu, cái làm bằng sương, bằng sừng. Có cái bằng ngà voi (khi voi rừng chưa bị liệt vào động vật quý hiếm). Sau này công nghệ phát triển,  cán tẩu được chế tạo bằng nhựa cứng đẹp và cũng rất bền. Với những cái tẩu được sản xuất gần đây, thân tẩu có thể tháo ra cho một cái lọc khói như cái đầu lọc ở thuốc lá điếu, hút xong vứt bỏ rồi vệ sinh sạch sẽ, không bị mùi. Thuốc lá hút tẩu cũng có rất nhiều loại, tùy theo “gu” nặng, nhẹ và mùi vị mà người hút chọn cho mình một loại phù hợp…

Nhà văn Đỗ Chu đưa cái tẩu ông đang dùng cho tôi xem. Tôi vô cùng ngạc nhiên, cái tẩu của ông bằng đá. Chẳng biết nó bằng đá gì, lúc ấy nhà văn nói nhưng do bị cuốn vào cái đẹp bất ngờ mà tôi không còn nhớ nữa. Cho đến hôm nay, cảm giác vẫn còn nằng nặng trong tay khi cầm cái tẩu lạ lùng ấy. Đó là một loại đá xanh biếc có muôn ngàn những chấm nhỏ lấp lánh như “vàng mười” được giát lì vào. Nhà văn bảo, ở nhà còn có một cái giá cũng bằng loại đá này như một cái bệ vững chãi, khi dùng xong để cái tẩu vào đấy. Tôi cảm thấy sự trịnh trọng của cái “thú chơi” như các võ sỹ đạo gác “thanh gươm” của mình trong nhà… Có điều dùng cái tẩu này phải hết sức cẩn thận, nếu đánh rơi là gãy hoặc vỡ! Sau này ai đó bảo: Tấu và thuốc lá, Đỗ Chu cứ thoải mái dùng, ông có nguồn tài trợ từ Anh quốc. Đó là một “bà bạn” từ thủa hai người còn trẻ cho đến tận bây giờ, trên đầu đã hai thứ tóc vẫn gửi đều đều cho nhà văn… “chơi”!

*

Nhà văn đi rồi còn lại một mình tôi với cái tòa soạn vắng người (tôi được đặc cách ngủ lại đây cùng với bảo vệ vì duy nhất một mình tôi trong cơ quan không có nhà riêng trong thành phố này). Mọi hôm cứ cữ này tôi nhớ nhà lắm, nhất là vào những hôm nhà nào đó trong ngõ nấu canh dưa cải chua với tép khô. Bao nhiêu thứ nhưng sao mùi canh dưa mẹ nấu ta không thể nào quên được. Song, hôm nay mùi thuốc lá của nhà văn Đỗ Chu lại mang lại cho tôi một nỗi nhớ khác.Tôi nhớ bố tôi.

Sinh thời bố tôi nghiện thuốc lá, ông hút cho đến khi chỉ còn một tuần nữa thì từ giã cõi đời (thọ tám mươi tuổi) mới thôi. Bố tôi kể: Tốt nghiệp xong bố tôi ra Đồ Sơn – Hải Phòng làm đại diện cho Công ty nấu rượu Đông Pháp, văn phòng thuê tại khách sạn Vạn Hoa của một chủ người Tàu. Hiện nay cái khách sạn đó vẫn còn, nghe nói sau “mở cửa” con cháu của người chủ cũ xin thuê lại để kinh doanh. Năm bảy mươi tuổi, bố tôi được cơ quan cũ đài thọ cho đi nghỉ một chuyến ngoài Đồ Sơn – Hải Phòng, thật vô tình ông lại nghỉ đúng cái nơi thủa đầu đời ông đã từng làm việc, cũng từ đây ông tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ của dân tộc… Ngày ấy có ai biết thuốc lá là độc hại đâu, hút thuốc lá còn là một “đẳng cấp” vì phần đông người nghiện nước ta hút thuốc lào. Chẳng biết từ ai mà… tào phào coi rượu (nút lá chuối) là quốc túy, thuốc lào là quốc hồn. Lúc đầu bố tôi không hút thuốc mà chỉ ngửi khói thuốc. Ông bảo: Đốt thuốc lá Mê-li-a (hiệu con đầm) rồi mở nước hoa Cô-lô-nhơ trong phòng để thưởng thức hai “mùi” ấy… quện vào nhau. Tôi chưa thấy ai làm thế và cũng không có điều kiện để thử nhưng chắc phải thú vị lắm nên bố tôi đã “nghiện” như thế mấy năm trời.

Sau khi lên chiến khu chẳng còn thuốc lá mà hút (suốt đời bố tôi không bao giờ hút thuốc lào, từ “điếu bát” đến “điếu cày” ngay cả những lúc khan hiếm nhất), bố tôi và một người lính Pháp hàng binh đã trồng thuốc lá bên bờ suối rồi phơi lên mặt tảng đá để hút. Ông bảo đã từng gọt một cải tẩu từ một gốc trúc già, dùng không kém gì tẩu của Tây. Sau khi chia tay, bố tôi đã tặng lại cái tẩu này cho người Tây hàng binh.

Sau “hòa bình lập lại” (1954), bố tôi trở thành công chức chính quyền của một thị xã nhỏ miền thượng du. Suốt một thời kỳ dài có lẽ điều khổ sở nhất với ông là không đủ thuốc lá để hút, mà ông không bao giờ hút thuốc lào. Tiêu chuẩn hàng tháng được phân mấy bao thuốc “Trường Sơn, Tam Đảo” (tên một số loại thuốc thời chiến tranh, bao cấp…) không bao giờ là đủ. Mẹ tôi chẳng biết nghĩ ngợi thế nào, đến các lò sấy (sơ chế) thuốc lá, quét tất cả những thứ vụn vặt, cọng cuống hợp tác xã bỏ đi… nhét vào bao tải mang về. Bố tôi cho ra sân nắng phơi, đợi đến lúc khô ròn, rũ bỏ những thứ không cần thiết. Sản phẩm ông thu được là những mảnh vụn lẳn mẳn như lá cây đu đủ già vỏ nhàu. Thế rồi giấy Pơ-luya, giấy báo… bốc một nhúm thuốc “tự sản” vào đó. Ông dùng ngón cái và ngón chỏ xoay một phát… rất điệu nghệ ra một “tổ sâu”. Bố tôi cho lên mép đảo lưỡi một cái, điếu thuốc từ mép bên này chạy sang mép bên kia… như một tải tử si-nê thực thụ. Bố tôi đốt thuốc, mùi khét lẹt bay khắp nhà. Ông nằm vắt chân “chữ ngũ” ra chiều thú vị lắm. Thế rồi một tiếng “toách” của hai ngón tay búng vang lên, cái “tổ sâu” (đã thấm nước bọt) bay vèo đi và dính ngay vào cột nhà. Nửa tháng sau, cái cột trong nhà sù lên một loạt gai sỉn màu. Tôi rất sợ bởi cứ nghĩ một đàn sâu sắp cắn tổ bò ra… Cũng may, cái cột ở chỗ khuất nên ít người nhìn thấy. Cứ như thế cho đến một ngày nào đó không còn gì để hút, bố tôi rải tờ báo ra chân cột, hai tay ông vuốt xuôi những cái “tổ sâu” xuống rồi tẩn mẩn xé vụn ra lấy “thuốc” hút lại! Không cuốn vào giấy nữa, lần “sái” này bố tôi nhồi thuốc vào một cái tẩu. Nắm cái “ống vố” trong lòng tay, bố tôi đưa lên miệng “bập, bập”, nhưng lúc ấy tôi thấy Người rất phong độ… Có một điều kỳ lạ là cả đời không thấy bố tôi phàn nàn gì cả. Hình như suốt cả cuộc đời ông rất yên tâm về con đường mà mình đã chọn!

Sau “giải phóng miền Nam” (1975) anh tôi mang từ Sải Gòn về nhà một gói thuốc Captain Black 100gr. Bố tôi bảo: Ở đâu ra mà xa xỉ thế này, mấy chục năm nay lại mới nhìn thấy! Rồi lấy cái tẩu ra. Từ tốn ông nhổi thuốc. Lần đầu tiên tôi ngửi thấy mùi thuốc lá kỳ lạ như vậy…

Nhà văn Đỗ Chu với mùi thuốc lá ông vừa hút gợi lại cho tôi cả một thời kỳ còn sống của bố tôi. Đó là mùi va-ni, mùi bơ, mùi sô-cô-la, mùi ca cao, mùi cà-phê… nhưng chủ đạo vẫn là mùi thuốc lá. Khi thuốc lá còn chưa bị phát hiện là một thứ độc hại, thuốc lá vẫn được hút ở chỗ đông người. Tổng hợp những mùi này ám váo tóc, váo váy áo các quý bà, quý cô… thơm phưng phức. Phải chăng, đó cũng là một thú chơi một thời và đến hôm nay vẫn rất hợp với “phong cách nhà văn Đỗ Chu”!

Cuối tuần đó tôi về nhà, mân mê cái tẩu thuốc của bố để lại. Cái tẩu thuốc này rất đặc biệt, phần nõ tẩu được bọc da phía ngoài. Chẳng biết da gì nhưng được thuộc rất kỹ, một số chỗ đã bị cháy lỗ chỗ nhưng cái “dấu chín” đóng lên đó vẫn cõ rõ tên hãng sản xuất… Đã bao nhiêu thuốc lá đi qua cái nõ tẩu này mà nó vẫn còn như nguyên vẹn. Chẳng biết cái loài mận mọc ở bờ biển Bồ Đào Nha có giống cây mận ở ta không? Song, tôi chắc chắn rằng, ở cái bờ biển sừng sứng đá dựng, với hàng triệu năm sóng biển Đại Tây Dương ầm ầm gào thét xô bờ, loài cây đó quằn quại sống và nó đã dâng hiến thân mình cho một cái thú chơi của con người vô cùng độc đáo. Từ hôm đó, nhà văn Đỗ Chu cho tôi thêm hiểu biết về một thứ “văn hóa”. Sau hôm ấy, những buổi trưa tôi hay đi theo nhà văn Đỗ Chu, ông thường hút thốc lào và uống chè chén ở các quán vỉa hè Hà Nội. Gần ông, tôi nhận ra một kho kiến thức, ông biết rất nhiều, nhưng điều mà không ai cũng có thể biết được…

*

Khoảng năm 2010, nhà văn Đỗ Chu cùng với Phan Kế Hoàng (cháu nội cụ Phan Kế Toại) về làng tôi chơi (Làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Ở làng, chi họ Phan nhà cụ Toại còn giữ được một ngôi nhà do cụ Tuần phủ Phan Kế Tiến (thân phụ của cụ Toại) xây dựng. Hiện ngôi nhà được họa sỹ Phan Kê An và gia đình làm thành một bảo tàng lưu giữ hiện vật và hình ảnh về cuộc đời hoạt động của cụ Phan Kế Toại.

Mồng 2 tháng 9 năm ấy, trong số báo đặc biệt kỷ niệm ngày Quốc khánh, trên trang nhất, báo Văn nghệ trang trọng in một bài bút ký của nhà văn Đỗ Chu. Đọc bài viết tôi cứ thon thót giật mình. Chi tiết ấn tượng nhất trong bài ký  là cuộc họp Hội đồng Chính phủ trên chiến khu Việt Bắc, sau khi kết thúc hội nghị, cụ Toại (lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ nội vụ) gặp cụ Hồ, nói: Quà của bà nhà tôi gửi biếu cụ! Cụ Toại trao cho cụ Hồ một cái gói được bọc cẩn thận bằng giấy báo… Năm sau, cũng tình cờ vào đúng khoảng thời gian ấy, sau khi họp xong, cụ Hồ đến bên cụ Toại (bằng tiếng Pháp) bảo: Cụ bà nhà ta có được khỏe không ạ? Cho tôi gửi lời cảm ơn! Lại sắp đến tháng mười rồi đấy… Cụ Hồ cảm ơn và nhắc cụ Toại “sắp đến tháng mười” là ý muốn nói đến “gói quà” năm ngoái. Năm ngoái cụ Toại gửi biếu cụ Hồ món quà đơn giản chỉ là một cái chân giò lợn đã được luộc chín rồi mang ngâm tương!

Ôi cái chum tương làng tôi, đã bao nhiêu năm nay nó gắn liền với cuộc đời nông phu, một năm hai vụ bốn mùa nhọc nhằn mưa nắng. Cái chum tương để ở góc sân như cái “tủ lạnh” trong nhà, nơi lưu giữ quả cà giã vụ của cơm cấy, cơm cày, nơi cất giữ xâu thịt còn lại sau ngày giỗ, chạp… Suốt cả tuổi thơ tôi cho đến tận bây giờ vẫn ngọt đằm trong tiềm thức vị cà giầm tương. Cả muối sổi phải xé bằng tay mới ngon. Cà giầm tương phải cắt bằng dao mới đẹp. Nhìn những miếng cà đỏ au như hổ phách trong lòng đĩa sứ… Ai đã một lần thưởng thức mới thấu hiểu câu thơ của Thanh Tịnh:

…“Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà giầm tương”…

Sau này sống với nghề làm tương (cái nghề với tôi “mọn” nhưng không “hèn”), vậy mà không làm nổi cái món ăn tưởng chừng như đơn giản ấy… Chân giò lợn sau khi đã luộc chín, để nguyên cả cái, cứ thế thả vào chum tương. Tương ngả (làm) vào tháng sáu, đến tháng mười cái chân giò lợn ngâm tương mới “chín”. Âm ỉ suốt mấy tháng hè “nắng lửa, mưa rào”, bao nhiêu tinh túy của gạo nếp, đậu tương, muối, tình người và tinh túy của đất trời đã thấm vào thịt lợn. Không phải nấu nướng hay chế biến gì nữa, cứ thế thái ra bày lên đĩa. Vẫn nguyên vẹn là thịt lợn nhưng dứt khoát không phải là thịt kho hay thịt luộc! Gió heo may đâu đó đã hiu hắt thổi trên cánh đồng sau mùa gặt. Trong nhà thóc đã vào bồ, ngoài vườn rơm đã lên cây. Cơm gạo mới với thịt chân giò ngâm tương cũng là phút giây cảm thấy cái sênh sang của đời làm ruộng. Chân giò lợn ngâm tương có lẽ là đặc sản độc đáo có một không hai của làng tôi trên đất nước này! Tôi sống ở quê, sao đến hôm nay phải đợi nhà văn Đỗ Chu mới gọi ra được cái món ăn độc đáo, dân dã và thuần túy thôn làng Việt Nam. Đó là tài năng của nhà văn!

Hôm ấy nhà văn Đỗ Chu vào nhà chơi, tôi không có nhà. Vợ tôi kể lại: Bác Đỗ Chu đi thẳng lên nhà trên, đứng nghiêm nghị ngẩng nhìn bức hoành phi treo ở gian giữa, rồi cất tiếng: Ba chữ này là ba chữ gì, bà giáo (nhà tôi dạy cấp II trường làng)? Thưa bác: Ba chữ này các cụ nhà em để lại là “Cửu tắc trưng” (tạm dịch: Lâu thì nên – thành) ạ! Nhà văn đi một vòng, từ nhà trên xuống nhà dưới rồi ngồi trầm ngâm ở bậc thềm nhìn ra một sân vàng nắng trộm của một ngày cuối thu. Trên sân nhà tôi có hàng trăm cái chum, hai vợ chồng tôi sống bằng nghề làm tương… Nhà văn ngạc nhiên khi nhà tôi cho biết sản lượng tương chúng tôi cung cấp ra thị trường từ 7000 – 8000 lít một tháng. Năm này qua năm khác, cũng chỉ có ngần ấy chum… Chẳng biết nghĩ ngợi thế nào nhà văn suy luận ra sự vơi đầy của cuộc sống. Hôm gặp tôi nhà văn bảo:  “Cửu tắc trưng” là: Lâu thì nên, thì thành đã đành rồi, nhưng cũng có nghĩa là “chìm thì tất nổi”! Tôi không ngờ Đỗ Chu lại có một cách dịch táo bạo và sáng tạo như thế. Phải chăng, đó là tư duy của một nhà văn và chỉ có nhà văn Đỗ Chu mới có!

Thời gian trôi đi, càng nghĩ lại càng thấy nhà văn Đỗ Chu có lý. Mới chỉ có mấy chục năm mà ở cái làng cỏn con heo hút của tôi biết bao thăng trầm biến động. Không ai có thể ngờ một vị “Khâm sai đại thần” Triều Nguyễn lại có thể trở thành Bộ trưởng Bộ nội vụ của chính phủ Việt Minh. Tôi nhớ lại một hôm nào đó, nhà văn Đỗ Chu cầm bút bi như bút lông đi những đường rất rẻo lên mặt giấy hai chữ thảo: “ngạo sương”. Tôi hiểu ý nhà văn lấy hai từ này ở câu:

…“Cúc ngạo hàn sương phô cốt cách

Nhan khai diệu sắc kháng thâm thu”…

(Lược dịch: Cúc ngạo nghễ với sương lạnh tỏ rõ cốt cách. Hoa nở với sắc đẹp tuyệt diệu để chống lại (cái lạnh) của mùa thu sâu).

Không ngại khó khăn gian khổ vẫn ngạo nghễ giữa đất trời mà khẳng định mình. Lịch sử đã có một giai đoạn như vậy, hết kháng chiến chống Pháp lại chống Mỹ, số phận của mỗi cá nhân gắn liền với vận mệnh dân tộc để viết tiếp những trang hào hùng trong lịch sử chống ngoại xâm của đất nước ta. “Đã đành rằng CỬU TẮC TRƯNG là lâu thì Nên, thì Thành song CHÌM THÌ TẤT NỔI cũng là một quy luật của đời sống… Tôi thấm thía với cách dịch này của nhà văn Đỗ Chu!

Kafka on the shore with leeches

Yesterday, I dreamt of leeches. Again. It’s such a nightmare. I haven’t seen any leeches in real life, yet the idea of a blood-sucking slippery sneaky creature just scares the hell out of me. I don’t know if there are any vague connections, but whenever I’m really stressed, I dream of leeches. Always leeches. No other monsters of any other sizes or forms.

In this dream I had, I was tied into a hospital bed, and some kind of mad scientist just used me as a host to raise a huge nasty leech. I tried to scream out of my lungs, yet I couldn’t, ’cause he just drugged me or something. I could feel the leech fiercely sucking blood out of my legs. I could feel like I’m dying slowly. Yet I couldn’t move. Yet I couldn’t scream for help. Finally I could drag myself out of the stone-heavy sleep just to suffer from an annoying migraine for the rest of the day.

Somehow the dream reminds me of Haruki Murakami’s pouring rain of leeches. Haruki’s world is so full of twisted dreams where in the search for the purest life purposes, people are driven into the weirdest quests testing their very believes and their very values. In “Kalfka on the shore”, the pouring rain of leeches is a sign to predict “something wicked this way come”, and a consequence of a tunnel being created between the existing-world and the other-world.

So does my dream habour any special meanings?

art-kafka-on-the-shore-2

(Source: https://wildmurakamichase.wordpress.com/category/kafka-on-the-shore/)

What I talk about when I talk about Raymond Carver

About 10 years ago, I only love classic novels. I love the sophisticated stories meticulously developed. I love the solid and consistent characters, you know, the good, the bad and the ugly. I love how the stories separated me from the sad and naked reality. I love how I could cry with and laugh along all the characters who bore resemblance with myself somehow, but they were much more condensed, consistent and dramatic.

As I grow up, it’s harder for me to be impressed. I would no longer picture myself wandering in a story, or getting lost in a romantic twist. I gradually come to realize that the good could also be the bad and the ugly might not be that ugly after all. Since then, I find it harder to pick up something after a while of strolling along the aisle piled with best-selling books in a fancy bookstore. I prefer digging up an old bookstore, diving into the most neglected and dusty corners to find out some sleeping-beauties which do not seem to interest a huge crowd in the small town where I’m dwelling.

Just like that, I found “The cathedral” – collected stories by Raymond Carver. I was carried away by the simplicity of the plot, by the fresh breath of life artistically brought into each story, by how the reality could be filtered to be translucent enough to set some light through. If there could be something that really touches my soul, that would be the truth. The truth that we human are more fragile than we think, and even a smallest twist of fate can break us.

513904964

The drifters (1)

Among certain moments of my day these days, I read The drifters bits by bits. It’s such a shame, not being able to spend a significant amount of time on such a good book like that. The drifters at first appeared to me like a bunch of micellaneous stuffs connecting to one another by means of invisible linkages. I didn’t have a good impression on how the author starts every chapter with run-on quotations or a fragment of a sudden something from somewhere. It seemed quite inaccesasible and uncomprehensible to me, on the first chapter, the way a conflict between national pride and personal belief can lead to a generation who took solace in drifting about to find something worth living for. Then, luckily, another chapter unfolded pulled me out of the interest which merely resulted from curiorsity. I see a reflection of myself, of my own conflicts, doubts and pain from all these portraits. I see a reflection of a world, once seemed to be too faraway and too out of my concern.

To a special pearl …

Today is Pearl S. Buck’s birthday. I didn’t notice it until I saw a notification on my facebook. I wrote some lines to the fan page to show my love and my respect to her. But when I went to sleep some minutes ago, I suddenly recalled some important things between her and me. I was deeply touched, like somebody just filled my heart with a cup of hot milk and making it beat faster. And I couldn’t help it. I have to wake up to write something down or else it would slip through my fingers like so many times before. Feelings and emotions are even more fragile than a spider string. Just one invisible touch of the wind can blow it away and it would disappear forever. Impossible to re-create.

I read the first Pearl Buck’s short story when I was a teenager who was struggling with herself everyday to find a good way of living. Her story was collected in a book named “The Nobel-laureates’ writings”. I still remembered this feeling: peaceful, quiet and elegant just like the floating mysterious incense fragrance from my great grandparents’ incense burner. The story was translated into Vietnamese and until now, what a shame, I haven’t found its original version. I guess this story was too trivial comparing to her several great masterpieces. But the first touch is always the deepest touch. I love this story for its simplicity and its fragility, for all the beautiful pictures it naturally and magically sent to my mind. From that moment on, I had a certain viewpoint about how a beautiful woman  should be which still lingered in my mind with some alterations as the result of time and of my exposure to the world and its reflections (mostly its reflections, to be honest). Pearl Buck opened my eyes and showed me all the old yet precious lifestyle of my ancestors that I hadn’t fully aware of. But most important of all, she gave me comfort and a guideline when I found nothing in my old poor village and my country to be proud of. At that time, I faced Western people everyday and I tasted all the bitterness of being looked down on. Maybe they were not that rude, it was me and my inferior complexity that made the situation seem to be that terrible. But the truth was that I felt small, so small. I felt like it was not fair at all to be born in such a village, such a country. My country was poor itself, but even people from the city visiting my village treated me like trash. How pathetic! How can a 15-year-old girl feel good about herself, about her origin when all she received was disrespect? But luckily Pearl Buck just elegantly showed up and pulled me out of the ocean. She made me realize that all the old and rusty stuffs that I once wanted to deny had a permanent value. It was precious gemstone hiding in the middle of a normal rock, it was like the leather in Andersen story with its whisper: The paint could fade away but the leather remains forever! I was born there and I just belong to that place till the last day of my life. And all the old and unchanged lifestyle has an indescribable beauty, a beauty that has a power to help you overcome all the boundaries that separated you from your   previous generations. It was when you thought you had lost yourself  that you were found and saved! And only that simple!

Millions thanks to Pearl S. Buck for changing my viewpoint in such a way that I couldn’t recognize without some serious looking-back moments. To me, you are like water … Powerful yet so elegant and mysterious!